Hoạt động chuyên môn

MỸ THUẬT ĐƯƠNG ĐẠI QUẢNG BÌNH 2006 - 2016 10 NĂM GẶP GỠ VÀ NHÌN LẠI (Nhân Hội VHNT Quảng Bình xuất bản Vựng tập Tác phẩm Mỹ thuật & Nhiếp Ảnh 2006 - 2016)

3/23/2017 3:59:44 PM

MỸ THUẬT ĐƯƠNG ĐẠI QUẢNG BÌNH 2006 - 2016

10 NĂM GẶP GỠ VÀ NHÌN LẠI

(Nhân Hội VHNT Quảng Bình xuất bản Vựng tập Tác phẩm Mỹ thuật & Nhiếp Ảnh 2006 - 2016)       

Tác phẩm Mỹ thuật & Nhiếp Ảnh 2006 - 2016 được xuất bản nhân kỷ niệm 55 năm thành lập của Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Bình là một ấn phẩm quan trọng trong đời sống văn học nghệ thuật tỉnh nhà, đặc biệt có ý nghĩa với đội ngũ sáng tác của hai chuyên ngành là Mỹ thuật và Nhiếp ảnh. Vựng tập gồm những tác phẩm mỹ thuật, nhiếp ảnh tiêu biểu đã công bố, triển lãm trong 10 năm qua của hội viên Hội VHNT Quảng Bình của hai phân hội là Mỹ thuật và Nhiếp ảnh. Sau 10 năm (năm 2006, Hội VHNT cũng đã xuất bản cuốn Mỹ thuật & Nhiếp ảnh đương đại Quảng Bình), hội viên lại có dịp hội ngộ trên một ấn phẩm được trình bày, thiết kế mang ngôn ngữ đồ họa tối giản đương đại khá ấn tượng. Thật đáng vui mừng và trân trọng khi điều kiện rất khó khăn mà Hội VHNT đã ưu ái cho ra đời ấn phẩm này. Đây cũng là dịp để chúng ta cùng xem, suy ngẫm và nhìn lại 10 năm xem mỹ thuât đương đại Quảng Bình đang ở đâu trong dòng chảy mỹ thuật đương đại khu vực Bắc miền Trung và cả nước (ở bài viết này xin chỉ đề cập đến các tác phẩm chuyên ngành mỹ thuật).

Mỹ thuật có 80 tác phẩm của 27 tác giả là hội viên (hiện nay có 35 hội viên mỹ thuật tuy nhiên một số họa sĩ không có tác phẩm do đã chuyển công tác hoặc không hoạt động sáng tác, công bố tác phẩm trong giai đoạn này). Qua số lượng và chất lượng của các tác phẩm được chọn in, có thể khẳng định rằng, mỹ thuật đương đại Quảng Bình giai đoạn 2006 - 2016 đã có nhiều bước tiến tích cực, mới mẻ cả về bề rộng và chiều sâu. Nhiều phong cách sáng tác, chất liệu mới được thể hiện, nhiều tác phẩm có giá trị thẩm mỹ và tư tưởng nghệ thuật cao, khẳng định cá tính sáng tạo của từng tác giả. Hình thành và phân định các nhóm tác giả cùng khuynh hướng, chất liệu trong thực hành mỹ thuật. Những cuộc chơi sáng tạo mới bắt đầu, hứa hẹn nhiều triển vọng trong tương lai, các tác giả trẻ đã tích cực sáng tạo, tìm gặp và hòa chung vào các hoạt động mỹ thuật trong khu vực và cả nước, một số tác phẩm của các họa sĩ, nhà điêu khắc được các nhà sưu tập, người yêu mỹ thuật tìm đến. Tuy nhiên, sáng tác Mỹ thuật giai đoạn này của các tác giả vẫn chủ yếu là mỹ thuật thuần túy (tranh, tượng), chứ chưa có tác phẩm ở các loại hình mỹ thuật đương đại như: trình diễn, sắp đặt…mặc dù vẫn có một số tác phẩm của các tác giả, nhưng có lẽ do nhiều điều kiện riêng mà chưa thể công bố, trưng bày, triển lãm.

Tác phẩm mỹ thuật Quảng Bình trong 10 năm qua được công bố, triển lãm vẫn chủ yếu ở ba loại hình chính, đó là: hội họa, điêu khắc, đồ họa.

          Về Hội họa: số lượng chiếm đa số, có đầy đủ tác phẩm của ba thế hệ sáng tác mỹ thuật. Trước hết phải kể đến tác phẩm của thế hệ những họa sĩ tự học, trưởng thành từ phong trào chiến đấu, sản xuất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và sau ngày đất nước thống nhất, tiêu biểu như: “Biển đảo quê hương”, “Xưa và nay” (sơn dầu) của họa sĩ Lê Anh Tân. Vẫn lối tạo hình khỏe khoắn, khái quát mang chất cổ động của mình, tác giả thể hiện sự vững chãi về bố cục và kỹ thuật chất liệu sơn dầu qua bảng màu tươi sáng và lúc nào trong tranh cũng là sự đồng hiện của không gian được kiến tạo bởi hệ thống các mảng hình lồng ghép vào nhau nhịp nhàng, tinh tế. Hai tác phẩm có chung đề tài là truyền thống đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền của tổ quốc. Lê Anh Tân có khả năng sáng tạo dồi dào, đa chất liệu, loại hình, là họa sĩ không ngừng làm mới mình trong khai thác nội dung đề tài và phong cách thể hiện. Họa sĩ Văn Đắc tiếp tục công bố với các tác phẩm ghép bẹ chuối, như: “Hương sen” ca ngợi hình tượng Bác hồ đang rạng rỡ giữa những đóa sen thơm ngát, “Anh hùng Lâm úy” thể hiện hình tượng người anh hùng của quê hương Quảng Bình. Đây là hai tác phẩm tiêu biểu trong khá nhiều tác phẩm của tác giả công bố trong thời gian vừa qua. Với đặc trưng về chất liệu, tác giả khai thác những mảng màu vật chất tự nhiên của bẹ chuối khô để diễn tả hình tượng nhân vật và bố cục tác phẩm. Tuy nhiên, do đặc điểm tạo hình từ những mãnh ghép, màu sắc của bẹ chuối không phong phú, chủ yếu là đậm nhạt đơn sắc nên phần nào hạn chế về khả năng diễn tả cũng như tạo chiều sâu, đa dạng trong không gian của tác phẩm. Các tác phẩm “Bài ca người lính”, “Khát vọng” (acrylic) của họa sĩ Nguyễn Thành Phố, “Ngọ môn” (lụa), “Mẹ con” (Bột màu) Nguyễn Xuân Trường là những tác phẩm chắc về bố cục, đẹp về màu nhưng chưa tạo được sự mới mẻ, hấp dẫn thị giác. Họa sĩ Lê Đan Tê với tác phẩm “Biển lạ” (Tổng hợp) đã tạo nên một tổng phổ hòa sắc đẹp của màu sắc, đậm nhạt và tạo chất, tác phẩm đề cập đến vấn đề môi trường biển đang được toàn xã hội quan tâm. Cùng với hai tác phẩm là: “Dấu ấn thời gian” và “Con đường huyền thoại” (Acrylic), Lê Đan Tê vẫn khẳng định mình là người làm chủ những mảng màu và kỹ thuật lồng ghép, biến chuyển mảng, chất vào nhau một cách hài hòa, tinh tế. Tuy nhiên chúng ta vẫn chưa thật sự thỏa mãn với những tác phẩm của tác giả trong giai đoạn này, vẫn nhìn thấy sự quen thuộc và khá giống nhau về bố cục, màu sắc ở các tác phẩm. Thế hệ họa sĩ trên là những người có bề dày thời gian hoạt động sáng tác, sự thẩm thấu văn hóa quê hương cùng vốn kinh nghiệm sống phong phú tạo nên những gam màu chắc khỏe, đậm đà, thể hiện được độ nặng, sâu về màu, vững về hình. Tuy nhiên đề tài và phong cách sáng tác chủ yếu theo hiện thực, thiên về miêu tả và phản ánh đời sống xã hội đơn thuần. Sự nhuần nhuyễn về bút pháp là một thế mạnh nhưng dễ tạo nên sự quen tay nên chưa tạo được dấu ấn riêng trong cá tính sáng tạo về xây dựng hình tượng nghệ thuật và ngôn ngữ thể hiện.

 Thế hệ họa sĩ trưởng thành từ những năm đất nước mở cửa đổi mới, được đào tạo bài bản tiếp tục sáng tạo với nhiều khuynh hướng sáng tác từ trừu tượng, biểu hiện đến hiện thực, siêu thực. Tuy nhiên, đánh giá một cách khách quan thì, giai đoạn này tác phẩm của họ không tương xứng với khả năng và những thành tựu họ đã tạo dựng ở những giai đoạn trước. Họa sĩ Đoàn Văn Thịnh vẫn phong cách hội họa trừu tượng, bán trừu tượng và biểu hiện đã làm nên cá tính sáng tạo trước đây, tác phẩm “Rừng khát” (sơn dầu) cho ta thấy độ vững về nghề bằng bút pháp khoáng đạt, vung vẫy như không có đường biên trong cấu trúc tác phẩm của mình, cảm xúc làm chủ tuyệt đối là điều chúng ta dễ nhận ra trong tác phẩm này của anh. Tuy nhiên, so với các tác phẩm trước đây, Đoàn Văn Thịnh hình như đang dừng lại để nhìn lại mình, để tìm con đường mới? bởi từ năm 2006 đến nay, anh ít công bố và tác phẩm cũng chưa thể hiện đúng vóc dáng sáng tạo của mình. Có một điểm chung khá lý thú là đa số họa sĩ thế hệ này lựa chọn cho mình lối thể hiện biểu hiện và bán trừu tượng, có lẽ ở đó họ dễ nhận ra mình, và có thể tính đa chiều trong bố cục không gian tác phẩm thuận lợi cho họ giải bày nỗi niềm và suy nghĩ của mình về cuộc sống. Có thể kể đến Trương Minh Luyện với “Nơi đảo xa” (Acrylic, giải C Lưu Trọng Lư), tác phẩm thể hiện không gian bao la của biển cả, nổi bật trên nền xanh thẳm ấy là những chiến sĩ hải quân đang canh giữ biển trời quê hương, tạo hình và bố cục không mới, nhưng chạm đến cảm xúc của người xem bởi sự mộc mạc, tình cảm trong biểu hiện. Tác phẩm “Treo” (Acrylic, giải C Lưu Trọng Lư) của Trần công Thoan lại là một chiều không gian khác, một đề tài mang tính thời sự, những dự án, tòa nhà mọc lên và…treo như những phế tích xù xì giữa lòng thành phố. Tác giả không sa vào diễn tả chi tiết, kể lễ mà tác phẩm là những nét, mảng màu thẳng, xiên mạnh mẽ, đâm toạc, va đập vào nhau tạo nên hiện quả bất ngờ và mới lạ, có thể nói đây là một tác phẩm khá mới mẻ với chính tác giả và mỹ thuật tỉnh nhà. Các họa sĩ khác như Dương Ngọc Liên có tác phẩm “Lời cầu siêu thành cổ” (lụa), “ Đại đội C Gái” (Acrylic), Trần Dương Sơn với “Phong cảnh”, “Mưu sinh” (bột màu), Nguyễn Đại Thăng với “Lễ hội đập trống” (sơn khắc), “Lễ hội cầu mưa” (Sơn mài), Đặng Minh Quý với “Lối về”, “ Chiều về” (bột màu)…là cảm xúc về đất và con người quảng bình, đặc trưng miền đất nắng gió, khắc nghiệt nhưng anh hùng, kiên cường trong chiến đấu, cần cù, chịu thương chịu khó trong lao động sản xuất và hơn hết ẩn chứa bên trong là những giá trị văn hóa phong phú, đặc sắc ít nơi nào có được. Nhưng, nếu mạnh dạn mà nói thì giai đoạn này, các họa sĩ trên chưa có tác phẩm hội họa nào thực sự nổi trội, tác phẩm vững về tạo hình, hay về nội dung nhưng chưa tạo ấn tượng và nhiều suy tưởng.

Hiện nay, có một đội ngũ sáng tác say mê với hội họa, dám làm, dám thử nghiệm, dám chịu trách nhiệm với vấn đề thẩm mỹ của mình đưa ra, họ là lực lượng trẻ. Nhìn vào vựng tập, khá nhiều gương mặt mới xuất hiện (mà tuyển tập năm 2006 không có), đó là những hội viên rất trẻ, rất mới, vừa tham gia vào hoạt động sáng tác của phong trào mỹ thuật trong tỉnh trong vài năm gần đây nhưng đã dần khẳng định vị trí của mình không chỉ trong khu vực và toàn quốc. Lựa chọn khai thác các đề tài về cuộc sống đương đại, những vấn đề nóng như môi trường, mâu thuẩn xã hội và sự dằn vặt, chống chọi của mỗi cá nhân để sinh tồn. Phong cách siêu thực và hậu hiện đại tỏ ra hữu hiệu và phù hợp để tác giả thể hiện những tâm tư của mình về sự hiện hữu của thân phận con người trong thế giới rộng lớn. Sự giao lưu, tiếp cận với các trào lưu mỹ thuật mới trong nước và trên thế giới thông qua internet như các diễn đàn, mạng xã hội, triển lãm, trình diễn trực tuyến… là điều kiện thuận lợi để các tác giả trẻ học hỏi, tích lũy và thử sức trong những phong cách, khuynh hướng sáng tác mới. Một số họa sĩ trẻ có nhiều bước tiến trong sáng tạo trong thời gian qua như: Nguyễn Lương Sáng với các tác phẩm “Người trong cuộc” (Tổng hợp, giải B khu vực, giải B Lưu Trọng Lư), “Điểm tựa” (Sơn dầu, giải C khu vực), “Thoát” (sơn dầu, giải trẻ), Hồ Trọng Lâm với “Kí ức đỏ”, “Khoảng cách 1” (sơn dầu), Trịnh Xuân Huy với “Phía sau cuộc chiến”, “Khoảng lặng” (sơn dầu), Nguyễn Lương Sao với “Chào buổi sáng”, “Đô thị đỏ và xám” (Acrilic), Nguyễn Chiêu Sinh với “Lá đỏ”, “Xuyên thời gian” (Sơn dầu), Nguyễn Quốc Vượng với “Sinh tồn” (tổng hợp)…Nhìn chung, tác phẩm của các họa sĩ trẻ là những cảm xúc trực diện với các vấn đề đang xảy ra của cuộc sống. Phong cách siêu thực và hậu hiện đại được đa số lựa chọn để giải bày những suy nghĩ, tâm trạng của mình. Dù nhiều sáng tác chủ yếu dừng lại ở thử nghiệm phong cách, bố cục và chất liệu nhưng đã tạo nên sinh khí mới cho hội họa Quảng Bình giai đoạn 2006 - 2016.

Về Điêu khắc: Quảng Bình trong những năm gần đây có thành tựu điêu khắc nổi bật trong khu vực bắc miền trung, nhiều tác giả ở tầm vóc quốc gia. Điều đáng mừng là xuất hiện nhiều nhà điêu khắc trẻ đầy triển vọng. Nhà điêu khắc Phan Đình tiến với các tác phẩm sắt hàn được hội đồng nghệ thuật và đồng nghiệp đánh giá cao về tưu duy sáng tạo và ngôn ngữ biểu hiện, tạo được chiều sâu tư tưởng, gợi nhiều không gian, thời gian và mối liên hệ, suy ngẫm về cuộc sống, thân phận con người. Tiêu biểu có các tác phẩm: “Trái tim của biển”, “Năng lực đối thoại” (Sắt hàn). Tác phẩm điêu khắc sắt hàn của anh chủ yếu sử dụng các vật liệu đã qua sử dụng (Ready made), nhưng rất lạ về cấu trúc khối và tứ biểu hiện, có thể nói là anh đã tạo được những biểu hình mới trong điêu khắc của mình. Mỗi tác phẩm là một câu chuyện được đầy cảm xúc như dứt ra từ máu thịt, gợi cho người xem những cung bậc cảm xúc mới lạ. “Trái tim của biển” ấn tượng người xem vì hình tượng lạ, bất ngờ, tạo tính đa chiều, đa nghĩa trong tác phẩm. Không chỉ nói lên nỗi đau của thân phận con người, mà rộng lớn hơn là biển cả khi tác phẩm lại ra đời trong thời điểm biển đảo quê hương bắt đầu dậy sóng với sự can thiệp vô lý của các thế lực bên ngoài. Anh còn có các tác phẩm tiêu biểu khác như: “Năng lực đối thoại” (Sắt hàn), “Giao cảm 1” (Đá). Điều đáng trân trọng là so với giai đoạn trước, tác phẩm điêu khắc của Phan Đình Tiến vẫn tiếp tục hoàn chỉnh lối tạo hình với chất liệu đá, và đẩy chất liệu sắt hàn lên một bước mới lạ, cá tính hơn. Anh là số ít trong các nhà điêu khắc miền Trung được giới mỹ thuật trong nước biết đến. Điều đáng tiếc là ở triển lãm Mỹ thuật toàn quốc 2010, 2015, triển lãm 10 năm điêu khắc 2013, anh chưa có tác phẩm đoạt giải thưởng như những kỳ triển lãm trước.

Một tác giả tiêu biểu cho thế hệ nối giữa trung niên và trẻ là Lê Ngọc Thái, tác phẩm của anh đều rất hấp dẫn bởi lối tạo hình đa dạng và nhiều chất liệu mới được khai thác như nhựa phế thải, giấy bìa, cẩn vỏ trứng... Là người có sức sáng tạo dồi dào, hình như với chất liệu nào anh cũng thể hiện thành công. Tác phẩm của anh tham gia nhiều triển lãm trong khu vực và toàn quốc, tiêu biểu là tác phẩm “Hiệu ứng kính” (Tổng hợp, giải KK triển lãm MTTQ, giải A Lưu Trọng Lưu 2011), tác phẩm thể hiện đề tài môi trường, mặt trái của sự phát triển đã làm cho con người ngột ngạt, nóng bức chính trong không gian sống của mình. Hình ảnh những thân thể run rẫy, quằn quại đau đớn không lối thoát cứ ám ảnh người xem. Các tác phẩm “Hồi sinh” (Sắt, gỗ, giải A triển lãm khu vực), Sức sống (tổng hợp, giải B năm 2014, giải B Lưu Trọng Lư 2016). Cùng với Phan Đình Tiến, Lê Ngọc Thái là người đi đầu trong phong trào sáng tác, tạo nên chỗ đứng của điêu khắc Quảng Bình trong những năm qua.

 Giai đoạn 2006 - 2016 cũng chứng kiến sự xuất hiện của các tác giả điêu khắc trẻ tiềm năng bắt đầu tìm cho mình lối thể hiện riêng như: Nguyễn Lương Du với các tác phẩm sắt hàn về đề tài thời hậu chiến, anh khéo léo tận dụng khối nguyên thủy của chất liệu để tạo hình, kết tạo khối và nghĩa một cách khéo léo. Như xu hướng chung của điêu khắc hiện nay, việc không giới hạn về chất liệu và hình thức biểu hiện đã tạo đà cho tác giả tìm tòi thể hiện, các tác phẩm: “Cuộc sống” (giải C Lưu Trọng Lư 2016), “Đằng sau những cuộc chiến” (sắt hàn) đã tạo dấu ấn đậm nét trong khu vực Bắc miền Trung qua các cuộc triển  lãm mỹ thuật. Một nhà điêu khắc trẻ khác cũng sớm tạo nên phong cách sáng tạo, dù không mới, không lạ nhưng có sự mộc mạc, ấm áp với các tác phẩm chất liệu gỗ, đó là Trương Trần Đình Thắng. Anh đồng nhất phong cách tạo chất và diễn đạt khối khi bắt đầu tham gia sáng tác đến nay. Mỗi tác phẩm là một câu chuyện đẹp, giản dị về cuộc sống quanh ta: như tình mẫu tử, tình yêu…Ở đó ta thấy hiện lên hình tượng con người, gần gũi, đôn hậu, đậm chất miền trung, các tác phẩm tiêu biểu như: “Thiếu nữ”, “Khất thực”, “Đón mẹ về” (gỗ). Võ Tuấn Hải cũng là một nhà điêu khắc trẻ, dù chưa tạo được nhiều thành công, nhưng tác phẩm lại có tính dị biệt, không trộn lẫn với bất cứ tác phẩm nào trong tỉnh cũng như khu vực. Các tác phẩm: “Biển động”, “Thiếu nữ và những gã si tình” (Tổng hợp) cho thấy anh có nhiều biến tấu lạ về khối hình. Tuy nhiên, vẫn là những nẻo đường tìm tòi, thử nghiệm để thỏa mãn cá tính thích phiêu du của Võ Tuấn Hải. Điêu khắc trong 10 năm qua thực sự là niềm tự hào của mỹ thuật Quảng Bình.

 Về Đồ họa: chúng ta không có nhiều tác giả sáng tác đồ họa (có nhiều họa sĩ được đào tạo đồ họa nhưng họ thường biết đến với các tác phẩm hội họa). Về cơ bản, đồ họa Quảng Bình cũng chỉ dừng lại một số loại hình cơ bản, chưa có nhiều chất liệu, hình thức mới. Lực lượng sáng tác chủ yếu là các họa sĩ thế hệ trước được biết đến với thể loại tranh cổ động tiêu biểu như: Lê Anh Tân với tranh cổ động về biển đảo với chủ đề “Phản đối đường lưỡi bò lấn chiếm biển đông”. Phải khẳng định rằng, về tranh cổ động thì họa sĩ Lê Anh Tân vẫn là tác giả thành công nhất với nhiều tác phẩm. Tác phẩm thường có lối tạo hình đơn giản, khái quát cao, thông điệp đưa ra mạnh mẽ, khúc chiết thể hiện mạnh mẽ quan điểm của tác giả với các vấn đề về xã hội, chính trị, an ninh quốc phòng hiện nay, đặc biệt là biển đảo quê hương. Ông cũng được biết đến với nhiều tác phẩm biếm họa độc đáo. Họa sĩ Quang Hiếu với hai tác phẩm về bảo vệ chủ quyền biển đảo đã thể hiện được đặc trưng ngôn ngữ cổ động. Tuy nhiên vẫn là những hình mảng quen thuộc, hình tượng nhân vật chung chung chưa tạo được sự riêng biệt trong cách điệu xây dựng hình tượng nhân vật. Đáng chú ý nhất của họa sĩ là “Bộ tác phẩm trình bày bìa sách”, đa số được trình bày hoàn toàn bằng kỹ thuật đồ họa thủ công, điều này thể hiện tác giả có kỹ năng tạo hình bằng nét, chấm, mảng vững, linh hoạt vốn rất đặc trưng của thể loại này. Các tác phẩm đồ họa của họa sĩ Lê Tất Thành về đề tài khai thác tài nguyên biển, đề tài giao thông nhưng chưa thực sự tiêu biểu như các tác phẩm trước đây của anh, trong vựng tập anh có các tác phẩm: “ Văn hóa giao thông”, “Vững chắc tay súng xây dựng biển đảo quê hương”.

Sáng tác tranh cổ động hiện nay ít được các họa sĩ trẻ quan tâm, có thể loại hình này không thể chuyển tải hết những tâm tư của người trẻ đương đại, khi mà xu hướng sáng tác tự sự, đề cao cái tôi cá nhân đang chiếm lĩnh đa số sáng tạo của tác giả trẻ thì có một họa sĩ đã khá thành công với tranh cổ động. Đó là họa sĩ trẻ Lê Thuận Long với rất nhiều tác phẩm cổ động có chất lượng được công bố thời gian qua trong các cuộc vận động sáng tác của các bộ ban ngành. Lê Thuận Long sớm tìm được một phong cách thể hiện riêng, đó là cổ động sử dụng hình tượng giản lược, đơn tuyến hoặc ảnh chụp để xây dựng bố cục. Với cách thể hiện này, việc lựa chọn hình tượng nhân vật và xây dựng không gian được tính toán kỹ, tạo sự chặt chẽ và hợp lý, nếu không sẽ rơi vào lắp ghép vụng về. Anh thành công với nhiều giải thưởng ở cấp bộ ngành toàn quốc như: Tác phẩm cổ động có chủ đề “Vinh dự - tự hào được kết nạp đảng trên biển đảo quê hương” (giải Ba toàn quốc Bộ VHTT 2015), Tranh cổ động đề tài học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh có chủ đề “Công việc hàng ngày chính là nền tảng của thi đua” (giải ba Bộ VHTT 2010), Tranh cổ động về biển đảo có chủ đề “Ấm áp nơi đảo xa” (giải ba tổng cục chính trị 2014, giải B Lưu Trọng Lư). Có thể nói, đây là lần đầu tiên ở Quảng Bình, một tác giả trẻ đoạt nhiều thành công ở lĩnh vực sáng tác tranh cổ động. Lối tạo hình gần gũi, đơn giản, dễ hiểu phần nào tạo nên thành công và cá tính riêng của anh. Các tác phẩm kịp thời phục vụ các hoạt động chính trị xã hội của quê hương và đất nước. Tuy nhiên, để tác phẩm của mình được sống lâu dài trong đời sống mỹ thuật, thiết nghĩ tác giả cần sáng tác những tác phẩm có độ rộng về không gian, dài về thời gian ngoài các tác phẩm chỉ phục vụ vào một sự kiện chính trị, xã hội nhất định.

Có lẽ họa sĩ duy nhất theo đuổi thể loại đồ họa giá vẽ hiện nay ở Quảng Bình là Nguyễn Thành Trung. Anh đã thành công với các tác phẩm đồ họa đơn sắc, mảng hình trong tranh đơn giản nhưng khúc chiết và tinh lọc, mỗi thành tố đưa vào được tính toán kỹ lưỡng, hầu như không có chi tiết thừa, ngẫu hứng mà tất cả đều được bố cục rất cụ thể, chặt chẽ. Các tác phẩm tiêu biểu như: “Phiên chợ vùng cao”, “Huế - Lục cúng hoa đăng”, “Qua suối” (Giải C Lưu trọng Lư) đã chứng minh cụ thể cho thành công trong phong cách đồ họa của tác giả. Tuy nhiên trong các tác phẩm đồ họa của Nguyễn Thành Trung còn thấy thiếu độ dày của các lớp nét, mảng. Chưa thấy được biểu cảm của chất trong quá trình thể hiện, đặc biệt là kỹ thuật in chưa được thể hiện sâu. Với phong cách này, nếu chuyển thể chất liệu như khắc gỗ, thạch cao hoặc khắc kim loại sẽ tạo được nhiều giá trị biểu cảm hơn. Tuy nhiên, Nguyễn Thành Trung cũng đã trở thành của hiếm về đồ họa giá vẽ ở tỉnh ta hiện nay. Ngoài ra, mỹ thuật Quảng Bình trong giai đoạn 2006 - 2016 còn có sự đóng góp của nhiều tác giả chưa phải là hội viên, đặc biệt là đội ngũ trẻ.

Giai đoạn 2006 - 2016, mỹ thuật Quảng Bình có các giải thưởng: 01 giải thưởng Hội MTVN (Trái tim của biển – Phan Đình Tiến), 01 giải A khu vực (Hồi sinh – Lê Ngọc Thái), 02 giải B khu vực (Sức sống – Lê Ngọc Thái, Người trong cuộc – Nguyễn Lương Sáng), 01 giải C khu vực (Điểm tựa – Nguyễn Lương Sáng), 03 giải Tặng thưởng (Nỗi đau da cam – Lê Ngọc Thái, Năng lực đối thoại – Phan Đình Tiến, Vọng- Nguyễn Lương Sáng), 01 giải Trẻ (Thoát – Nguyễn Lương Sáng), 03 giải Ba tranh cổ động ban ngành toàn quốc (Lê Thuận Long), 14 tác phẩm được giới thiệu dự giải thưởng của UBTQ Hội Liên hiệp VHNT Việt Nam. Giải thưởng trong tỉnh (giải thưởng Lưu Trọng Lư): 02 giải A, 05 giải B, 08 giải C và nhiều giải thưởng cấp tỉnh, khu vực về đồ họa như: tranh cổ động, trình bày bìa, logo…

          10 năm không quá dài cho sự phát triển một nền mỹ thuật, nhưng đủ để chúng ta đánh giá sự chuyển mình và phát triển của một giai đoạn. Đặc biệt từ 2006 – 2016 là 10 năm diễn ra sự giao lưu văn hóa, nghệ thuật trong đó có mỹ thuật mạnh mẽ và rộng rãi trong nước và quốc tế. Là thời kỳ diễn ra nhiều sự kiện mỹ thuật quan trọng của đất nước như: Triển lãm toàn quốc, triển lãm 10 năm điêu khắc, triển lãm quân đội toàn quố, festival mỹ thuật trẻ…là cơ hội để các tác giả công bố tác phẩm để giao lưu, học hỏi phát triển trong sáng tạo. Thời gian này các hoạt động mỹ thuật đương đại bắt đầu phát triển ở khu vực miền Trung, đặc biệt ở Huế, chúng ta cần nhìn lại mình trong sáng tạo ở khu vực và toàn quốc là cần để tiếp tục tiến bước trong tương lai, những giai đoạn tiếp theo. 10 năm, nhiều tác giả cũng bước từ độ tuổi này sang độ tuổi khác, từ giai đoạn sáng tạo này sang giai đoạn khác. Nếu không tự làm mới mình là một mối nguy cơ cho việc tự loại ra khỏi dòng chảy của mỹ thuật đương đại Việt nam hiện nay, một dòng chảy cuồn cuộn sẵn sàng loại bỏ những gì cũ kỹ cản trở sự phát triển và hội nhập với mỹ thuật các nước trong khu vực và thế giới. Tuy nhiên, chúng ta dễ nhìn thấy các tác phẩm công bố ở khu vực và toàn quốc chỉ tập trung một số gương mặt quen thuộc, tác phẩm công bố ở cấp quốc gia khá hiếm hoi, chưa tạo được nhiều điểm khác biệt về ngôn ngữ sáng tạo (trừ một, hai tác giả về điêu khắc). Điêu khắc là lĩnh vực tạo được nhiều thành công, hội họa chưa có nhiều bước tiến, đồ họa còn thiếu vắng và đơn điệu. Tín hiệu đáng mừng hơn cả là đã xuất hiện một lực lượng sáng tác trẻ từng bước khẳng cá tính sáng tạo của mình, vươn ra sánh ngang với các họa sĩ trẻ trong cả nước. Đã có sự chuyển giao thế hệ, các thế hệ trước đã lùi lại tạo đà cho các tác giả trẻ vươn lên, đó cũng là quy luật muôn đời của sự phát triển “tre già măng mọc” mà trong sáng tạo quy luật này càng khắc nghiệt hơn. Sự chuyển giao thế hệ sáng tác cùng với chuyển giao quan điểm, phong cách sáng tạo mới làm nên những tín hiệu vui cho mỹ thuật Quảng Bình trong 10 năm qua, giai đoạn 2006 - 2016.

Tạp chí Nhật Lệ/ Hội VHNT Quảng Bình/ 2017                                                                                                                      Nguyễn Lương Sáng

ĐỊA CHỈ
312 Lý Thường Kiệt - Phường Bắc Lý - Thành phố Đồng Hới - Quảng Bình
(0232) 3...
Hỗ trợ kỹ thuật : (0232) 3...
Khoa Âm nhạc - Mỹ thuật- Trường Đại Học Quảng Bình
© Phát triển bởi Bộ môn CNTT Trường Đại học Quảng Bình